Một số chính sách, pháp luật có hiệu lực từ tháng 7 năm 2026

Từ ngày 01/7/2026, nhiều luật, nghị định và thông tư quan trọng sẽ chính thức có hiệu lực, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, hoạt động của doanh nghiệp cũng như công tác quản lý nhà nước. Trong đó, đáng chú ý là các chính sách liên quan đến tiền lương, bảo hiểm xã hội, an ninh mạng, xây dựng, thi hành án dân sự và nhiều lĩnh vực khác. Sau đây là những tóm tắt các chính sách, pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 7 năm 2026 liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và liên quan mật thiết đến đời sống của Nhân dân.

Luật Báo chí 2025 bắt đầu có hiệu lực

Luật Báo chí năm 2025 gồm 4 Chương, 51 Điều (giảm 2 Chương, 10 Điều so với Luật Báo chí năm 2016) với nhiều nội dung mới, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Báo chí năm 2025 là việc bổ sung, làm rõ quy định về vị trí của báo chí. Luật khẳng định: báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là báo chí cách mạng; là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước; là diễn đàn của nhân dân.

Đáng chú ý, Luật quy định các nguyên tắc về mô hình hoạt động, kinh tế báo chí, mở rộng không gian hoạt động của báo chí để phát triển báo chí trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền trong kỷ nguyên mới.

Luật mở rộng không gian hoạt động của báo chí sang không gian mạng, quy định rõ kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng, nội dung báo chí hoàn chỉnh của nền tảng số báo chí quốc gia là sản phẩm báo chí.

Luật bổ sung các quy định: Cơ quan báo chí chủ lực địa phương có nhiều loại hình báo chí, cơ quan báo chí trực thuộc; có cơ chế đặc thù về tài chính; được thành lập phù hợp với Chiến lược phát triển và quản lý hệ thống thông tin báo chí được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan báo và phát thanh, truyền hình thuộc tỉnh/thành ủy, có nhiều loại hình báo chí, sản phẩm báo chí. Cơ quan tạp chí khoa học được xuất bản nhiều tạp chí khoa học, góp phần đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Tăng mức tiền lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng

Theo đó, tại Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Mức lương cơ sở dùng làm căn cứ:

- Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định 161/2026/NĐ-CP ;

- Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật;

- Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Từ ngày 01/07/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng.

Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương, theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết 142/2024/QH15 thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6 năm 2026 của cán bộ công chức viên chức với tiền lương từ ngày 01/07/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù.

Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6 năm 2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc).

Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/07/2026.

Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/07/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung.

(4) Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Nghị định 161/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Nhà giáo được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20-80%

Chính phủ ban hành Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập.

Theo Bộ Giáo dục và đào tạo, Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa Luật Nhà giáo năm 2025; góp phần hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống chính sách phụ cấp ưu đãi theo nghề trong ngành Giáo dục.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 7/7/2026. Các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề được thực hiện từ ngày 1/1/2026.

Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm cả người đang trong thời gian tập sự, thử việc hoặc hợp đồng áp dụng tiền lương theo bảng lương của viên chức.

Theo lộ trình thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, để phù hợp với điều kiện kinh phát triển tế- xã hội của đất nước, Nghị định đã quy định các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề từ 20% đến 80%, được xác định theo đối tượng thụ hưởng, cấp học, loại hình cơ sở giáo dục, tính chất công việc và điều kiện địa bàn công tác.

Đặc biệt, lần đầu tiên nhân sự hỗ trợ giáo dục trong các cơ sở giáo dục công lập được đưa vào diện hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề với mức phụ cấp 20%. 

Đây là điểm mới đáng chú ý của Nghị định, thể hiện sự ghi nhận đối với đội ngũ nhân sự tham gia hỗ trợ hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Nghị định cũng điều chỉnh mức phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với một số nhóm nhà giáo và cơ sở giáo dục đặc thù so với các quy định trước đây. Trong đó, có nhóm được điều chỉnh từ 35% lên 45%, từ 50% lên 60% hoặc từ 70% lên 80%.

Chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật trên mạng xã hội bị phạt đến 50 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Nghị định này gồm 8 chương, 117 điều quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử, công nghệ thông tin và mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực an ninh mạng).

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác liên quan đến các lĩnh vực nêu trên không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đó để xử phạt.

Theo quy định trong Nghị định, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định quy định: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm; Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện hành vi vi phạm.

Các quy định mới về chính sách bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực

Từ ngày 1/7/2026, các quy định mới về chính sách bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực theo Luật Bảo hiểm Y tế, Nghị định số 188/2025/NĐ-CP và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Khám chữa bệnh BHYT cho người dân. Ảnh: TTXVN

Theo Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, điểm mới đáng chú ý là mở rộng mức hưởng đối với người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám chữa bệnh ngoại trú trong một số trường hợp. Cụ thể, từ ngày 1/7/2026, người bệnh khám chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu, tùy theo loại hình cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền xác định, sẽ được quỹ Bảo hiểm y tế chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh còn lại ngoài danh mục quy định tại Thông tư số 01/2025/TT-BYT, thay vì chưa được thanh toán như trước. Quy định này góp phần giảm gánh nặng chi phí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn để người dân tiếp cận các dịch vụ y tế.

Bên cạnh đó, mức lương cơ sở được điều chỉnh lên 2,53 triệu đồng/tháng làm căn cứ tính toán nhiều quyền lợi bảo hiểm y tế. Theo đó, người tham gia được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh nếu chi phí một lần thấp hơn 15% mức lương cơ sở (tương đương 379.500 đồng). Đồng thời, người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên sẽ được quỹ chi trả 100% chi phí trong phạm vi hưởng khi số tiền cùng chi trả trong năm vượt quá 6 lần mức lương cơ sở (tương đương 15.180.000 đồng).

Mức thanh toán đối với một số dịch vụ kỹ thuật cũng được điều chỉnh. Theo đó, trường hợp người tham gia  được chỉ định thực hiện dịch vụ kỹ thuật thì quỹ bảo hiểm y tế thanh toán tổng chi phí thiết bị y tế cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật không vượt quá 45 tháng lương cơ sở (tương đương 113,850.000 đồng).

Rút ngắn thời gian cấp Giấy phép xây dựng

Theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ, thời hạn giải quyết thủ tục cấp Giấy phép xây dựng trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Cụ thể, theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP, thời hạn giải quyết thủ tục cấp Giấy phép xây dựng, điều chỉnh Giấy phép xây dựng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 102 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, được sửa đổi bởi điểm b khoản 36 Điều 1 Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 như sau:

Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp cấp giấy phép xây dựng (quy định hiện nay 20 ngày).

Trong thời gian 9 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp điều chỉnh giấy phép xây dựng (quy định hiện nay 20 ngày).

Trong thời gian 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với trường hợp cấp, điều chỉnh giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ. (quy định hiện nay 15 ngày).

Về cắt giảm điều kiện kinh doanh lĩnh vực hoạt động xây dựng, Nghị quyết nêu rõ, không thực hiện điều kiện phải có Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 đối với cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì xác định, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Không thực hiện điều kiện năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Điều 87 Nghị định số175/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng (Nghị định số 175/2024/NĐ-CP) đối với cá nhân đảm nhận chức danh chủ trì kiểm định xây dựng.

Cá nhân đáp ứng điều kiện năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp về quản lý dự án đầu tư xây dựng theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Điều 85 Nghị định số 175/2024/NĐ-CP thì đủ điều kiện đảm nhiệm chức danh chỉ huy trưởng công trường; không phải đáp ứng điều kiện năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp quy định tại Điều 86 Nghị định số 175/2024/NĐ-СР.

Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027.

Cũng từ ngày 1/7/2026, 6 nghị định mới trong lĩnh vực xây dựng chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết về quản lý dự án đầu tư xây dựng, cấp phép xây dựng, hợp đồng xây dựng, điều kiện năng lực hoạt động xây dựng và phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, gồm: Nghị định 193/2026/NĐ-CP về quyết toán vốn đầu tư dự án; Nghị định 206/2026/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Nghị định 207/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng; Nghị định 209/2026/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng; Nghị định 210/2026/NĐ-CP về hợp đồng xây dựng; Nghị định 212/2026/NĐ-CP về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.

Thu nhập dưới 15,5 triệu đồng/tháng không phải nộp thuế

Một số chính sách mới nổi bật tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, như: Bổ sung thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vàng miếng, tài sản số; quy định hộ, cá nhân kinh doanh được trừ đi chi phí để tính thuế như doanh nghiệp; áp thuế 5% đối với cá nhân cho thuê bất động sản.

Đặc biệt, mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm). Thuế TNCN từ tiền lương, tiền công được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất lũy tiến từng phần. Trong đó, thu nhập tính thuế được xác định sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc như BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Người nộp thuế sẽ được áp dụng giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế. Ngoài bản thân, mỗi người phụ thuộc (như con, vợ/chồng không có khả năng lao động, bố mẹ hết tuổi lao động hoặc không nơi nương tựa…) được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng và chỉ tính cho một người nộp thuế duy nhất. Mức giảm trừ có thể được điều chỉnh theo biến động giá cả và thu nhập do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trong từng thời kỳ.

Thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng

Từ ngày 1/7, Luật Dân số và Nghị định 168/2026 có hiệu lực thi hành với nhiều chính sách mới về khuyến sinh, nâng cao chất lượng dân số.

Theo Nghị định 168/2026, từ ngày 1/7, phụ nữ khi sinh con thuộc 3 trường hợp sau sẽ được hỗ trợ tài chính mức tối thiểu là 2 triệu đồng: Dân tộc thiểu số rất ít người; ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi. Phụ nữ sinh con đồng thời thuộc các trường hợp này thì được hưởng một mức hỗ trợ (không được cộng dồn).

Bên cạnh chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con, Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định về chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai. Theo đó, trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con, nếu đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định phụ nữ mang thai được khám và thực hiện sàng lọc trước sinh đối với 4 bệnh cơ bản gồm: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau và bệnh Thalassemia. Trẻ sơ sinh được sàng lọc 05 bệnh cơ bản gồm: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh và bất thường tim bẩm sinh nặng.

Mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không quá 900.000 đồng/trường hợp; sàng lọc sơ sinh tối đa không quá 600.000 đồng/trường hợp.

Từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 31/12/2026, chính sách này ưu tiên áp dụng cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội, người dân tại địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo. Từ ngày 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ theo quy định.                                                             

Xem nhiều nhất